Việt Nam có tránh được lời nguyền tài nguyên?

Lời nguyền tài nguyên là cách nói chua chát nhằm vào những quốc gia sa đà vào đào bới của cải dưới lòng đất hòng tạo ra bước đột phá về kinh tế. Nó đã trở thành đề tài được giới học giả thảo luận sôi nổi trong nhiều thập kỷ gần đây.

Tại sao Sudan và một số nước Tây Phi giàu dầu mỏ, kim cương mà các chỉ tiêu về mức sống, giáo dục, tuổi thọ… lại thuộc loại thấp nhất thế giới? Tại sao Arập Saudi xuất khẩu dầu mỏ nhiều nhất thế giới lại có đến 17% người dân thất học? Tại sao nội chiến triền miên luôn gieo lên đầu những người dân châu Phi khốn khó, trong khi chính họ mới là chủ nhân đích thực các kho báu ẩn giấu dưới lòng đất? Ỷ lại vào tài nguyên thiên nhiên chẳng những sẽ thất bại mà càng lún sâu vào tụt hậu.

Hình. Một người đàn ông làm việc tại một địa điểm nhà máy lọc dầu bất hợp pháp gần sông Nun, Bang Bayelsa, Nigeria năm 2012 (Nguồn: NBC news).

Tiếp tục đọc

File tham khảo – Bài tập tìm hiểu các quốc gia của SV UEL HK hè 2014-2015

Đây là file tập hợp các bài tập con – Tìm hiểu về các quốc gia của SV trường UEL học kì hè 2014-2015.

Link để tải về: BT Tim hieu quoc gia – HK he

Cảm ơn các em đã tham dự lớp rất tích cực trong HK hè vừa qua.

Cô chúc các em sẽ vượt qua những thử thách sắp tới, trong việc học và cả trong sự nghiệp về sau.

C.Thi

Tù nhân của địa lý

Nguồn: Ricardo Hausmann (2001). “Prisoners of Geography”, Foreign Policy, No. 122 (Jan. – Feb.), pp. 44-53.

Biên dịch: Dương Thanh Nga | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Các chuyên gia phát triển kinh tế hứa hẹn rằng với sự hòa hợp chính xác của các chính sách hỗ trợ thị trường, các nước nghèo cuối cùng sẽ phát triển thịnh vượng. Nhưng chính sách không phải là vấn đề – địa lý mới là vấn đề. Các quốc gia nhiệt đới không giáp biển không bao giờ có thể tiếp cận những thị trường và công nghệ mới mà họ cần để phát triển trong nền kinh tế toàn cầu. 

Bạn thuộc cung Bọ Cạp. Vậy thì bạn chắc hẳn là một người sôi nổi. Các phong vũ biểu cho rằng áp suất khí quyển đang giảm. Vì vậy trời sắp mưa. Vĩ độ của bạn ít hơn 20 độ. Trong trường hợp này, quốc gia của bạn chắc chắn nghèo.

863px-Landlocked_nations.svg Tiếp tục đọc

Căn nguyên của phát triển

Tác giả Trần Hữu Dũng

Bài viết đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn
Số Tết dương lịch 2011

Bất cứ ai quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế của một quốc gia đều có thể kể một loạt yếu tố ảnh hưởng đến mức độ và tốc độ phát trỉển: vốn vật thể, vốn con người, công nghệ, thể chế, v.v.   Những yếu tố ấy hẳn là quan trọng nhưng, khoảng 10-15 năm trở lại đây, một cuộc tranh luận đã diễn ra trong giới kinh tế về thành tố sâu xa nhất của phát triển, cụ thể là: có yếu tố nào căn bản hơn, đàng sau những yếu tố nói trên? Thắc mắc này là tất yếu vì lẽ, chẳng hạn như, dù xác định được vai trò của tích lũy vốn và tiến bộ công nghệ trong phát triển kinh tế, vẫn còn có thể hỏi: Thế thi tại sao có sự chênh lệch rộng lớn giữa các xã hội về tốc độ tích lũy và “cải tiến”?

 Có ba trường phái chính trong cuộc tranh luận này. Trường phái thứ nhất, tạm gọi là phái địa lý, mà thủ lĩnh là nhà kinh tế Jeffrey Sachs. Trường phái thứ hai, thường được gọi là trường phái hội nhập, mà kinh tế gia tiêu biểu là David Dollar.  Trường phái thứ ba là trường phái thể chế, thường gắn liền với tên Daron Acemoglu và Dani Rodrik. Tiếp tục đọc

Công ty đa quốc gia (Multinational corporations)

Tác giả: Lê Hồng Hiệp

Các công ty đa quốc gia, hoặc công ty xuyên quốc gia (transnational corporations), là những công ty có hoạt động diễn ra tại hai quốc gia trở lên. Các công ty đa quốc gia ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Hiện nay, 500 công ty đa quốc gia lớn nhất kiểm soát hơn hai phần ba thương mại thế giới, trong đó phần lớn là các trao đổi được thực hiện giữa các công ty con, chi nhánh của chúng với nhau. Bên cạnh đó, 100 công ty đa quốc gia lớn nhất chiếm khoảng một phần ba tổng số đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên toàn cầu. Tuy nhiên, sự phân bổ của các công ty đa quốc gia không đồng đều, với phần lớn trong tổng số hơn 63.000 công ty đa quốc gia trên thế giới có trụ sở chính ở Mỹ, Châu Âu hoặc Nhật Bản.

Sự xuất hiện các công ty đa quốc gia không phải là một hiện tượng mới mẻ. Ví dụ những công ty như Công ty Đông Ấn Anh Quốc hay Đông Ấn Hà Lan bắt đầu hoạt động trên phạm vi quốc tế trong thời kỳ diễn ra làn sóng thực dân hóa đầu tiên cách đây hơn 300 năm. Tuy nhiên bản chất của các công ty đa quốc gia đã thay đổi rất nhiều trong những thế kỷ qua. Cuộc Cách mạng công nghiệp và công nghệ thông tin cùng các biện pháp quản lý mới đã đóng vai trò quan trọng trong tiến trình này. Đặc biệt với quá trình toàn cầu hóa được thúc đẩy mạnh mẽ kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai cùng sự mở rộng thương mại tự do, các công ty đa quốc gia đã khuếch trương mạnh mẽ về số lượng và quy mô hoạt động.

Với tác động của toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại, các công ty đa quốc gia đã có nhiều thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm những địa điểm hoạt động mang lại hiệu quả cao nhất. Theo đó, các công ty này đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài nhằm khai thác lợi thế so sánh của từng quốc gia, tận dụng các chính sách ưu đãi, qua đó giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh cho mình. Sự lớn mạnh của các công ty đa quốc gia cũng là chỉ dấu cho thấy một sự thay đổi quan trọng trong nền chính trị thế giới đang diễn ra. Theo đó, khi quyền năng trong việc áp đặt các hàng rào thuế quan giảm sút, vai trò của các nhà nước trong việc điều phối nền thương mại toàn cầu cũng không còn mạnh mẽ như trước đây. Trong nền thương mại toàn cầu ngày càng tự do ngày nay, chính các công ty đa quốc gia, những tác nhân chủ chốt tiến hành các hoạt động thương mại quốc tế, là những người nắm giữ quyền lực trong việc xác lập các quy tắc thương mại toàn cầu.

Quyền lực của các công ty đa quốc gia còn thể hiện ở chỗ chúng rất khó kiểm soát. Do hoạt động xuyên biên giới, các quy định pháp luật ở cấp độ quốc gia thường không đủ để điều chỉnh hành vi của các công ty đa quốc gia. Vấn đề này còn nảy sinh từ thực tế rằng việc điều phối pháp luật ở cấp độ quốc tế còn rất yếu và rất khó đảm bảo thực thi. Chính vì vậy mặc dù các công ty đa quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển toàn cầu, việc các công ty này có thể chuyển hoạt động sang các quốc gia khác khi gặp phải các rào cản quản lý ở nước sở tại khiến cho các quốc gia đơn lẻ hầu như không thể kiểm soát được hoạt động và hành vi của các công ty đa quốc gia.

Thực tế này cũng được thể hiện sống động trong các tranh luận xung quanh các công ty đa quốc gia với những ý kiến ủng hộ cũng như phản đối vai trò và ảnh hưởng của các công ty này.

Một mặt, các nhà chỉ trích cho rằng các công ty đa quốc gia là những kẻ bóc lột các nước kém phát triển, xâm hại quyền con người, gây ô nhiễm môi trường, và trong nhiều trường hợp còn tham gia các hoạt động phạm pháp, thậm chí liên quan đến các âm mưu lật đổ chính quyền nước sở tại. Ví dụ, có nhiều bằng chứng cho thấy vào những năm 1970, công ty ITT và Anaconda Copper với sự trợ giúp của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã dính líu vào việc lật đổ chính quyền dân cử của bác sĩ Salvador Allende tại Chile nhằm thu hồi lại các tài sản đã bị quốc hữu hóa. Công ty dầu lửa Shell cũng là một trong số ít các công ty đa quốc gia vẫn tiếp tục duy trì hoạt động ở Nam Phi thời kỳ chế độ apartheid bất chấp sự phản đối và lời kêu gọi công ty này chấm dứt hoạt động ở đây của cộng đồng quốc tế và các tổ chức phi chính phủ. Các công ty đa quốc gia cũng bị cáo buộc là làm thất thoát nguồn thu ngân sách của các quốc gia thông qua hình thức chuyển giá nội bộ, một biện pháp nhằm trốn thuế rất tinh vi mà chính quyền các quốc gia rất khó kiểm soát. Ở Việt Nam, việc công ty Vedan của Đài Loan gây ô nhiễm môi trường trên quy mô lớn và kéo dài ở khu vực sông Thị Vải (Đồng Nai) là một ví dụ khác về các mặt trái của các công ty đa quốc gia.

Ngược lại, những người ủng hộ các công ty đa quốc gia cũng ca ngợi những công ty này là các cỗ máy cung cấp động lực phát triển kinh tế cho các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, thông qua nguồn vốn, công nghệ hay kỹ năng quản lý mà các công ty này mang đến cho các quốc gia tiếp nhận đầu tư. Thông qua các nhà máy và các dự án ở các nước đang phát triển, các công ty đa quốc gia được cho là góp phần tạo ra công ăn việc làm, gia tăng tổng thu nhập quốc nội, cũng như góp phần nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, khả năng quản lý của các nước đang phát triển. Thông qua hoạt động của mình, các công ty đa quốc gia cũng có thể giúp các quốc gia thay đổi cơ cấu nền kinh tế, mở rộng xuất nhập khẩu và qua đó hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Trên bình diện quốc tế, các công ty đa quốc gia cũng được ca ngợi là những người tiên phong trong nghiên cứu và phát triển các công nghệ mới, là một lực lượng giúp thúc đẩy quá trình hiện đại hóa quan hệ quốc tế và là một trong những nguồn hi vọng đối với việc xóa đói giảm nghèo ở các nước thuộc Thế giới thứ ba.

Bất chấp những tranh cãi xung quanh vai trò và tác động tích cực hay tiêu cực của các công ty đa quốc gia, một điều rõ ràng có thể nhận thấy chính là việc các quốc gia đang cạnh tranh gay gắt lẫn nhau nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài của các công ty đa quốc gia. Chính vì thế các quốc gia rất miễn cưỡng trong việc áp đặt các biện pháp hạn chế đối với các công ty này. Không những vậy, các quốc gia còn đưa ra các chính sách ưu đãi, thậm chí chấp nhận điều chỉnh pháp luật hay các tiêu chuẩn về môi trường, kỹ thuật… nhằm thu hút các công ty đa quốc gia đến đầu tư. Đây cũng là lý do tờ tạp chí The Economist của Anh từng ví các công ty đa quốc gia như những “con quái vật được yêu thích” của tất cả các quốc gia, ai cũng biết những hạn chế và tác động tiêu cực của chúng nhưng ai cũng muốn đón chào và khai thác những lợi ích mà chúng mang lại.

Nguồn: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013).

Đọc thêm bài: Tác động kinh tế chính trị của các công ty đa quốc gia http://nghiencuuquocte.net/2014/10/15/cong-ty-da-quoc-gia/

Phỏng vấn xin việc

Sanh viên bây giờ tốt nghiệp ra, thất nghiệp nhiều quá. Có lẽ do kinh tế đang suy thoái nên không ngậm nổi lượng hàng của gần 400 trăm trường trên khắp cả nước hàng năm sản xuất ra. Thế nhưng 1 nghịch lý là ở các doanh nghiệp, lúc nào cũng than thở tìm không ra nhân viên giỏi để làm việc. Cung và cầu đều rất lớn, nhưng…

Lỗi trước mắt thuộc về các bạn sinh viên. Coi như sức lao động là 1 loại hàng hóa đặc biệt, thì lương chính là giá của hàng hóa đó. Nên hàng tốt giá cao và ngược lại. Nên các bạn phải cố gắng làm cho mình tốt hơn, mới mong bán được giá cao. Tốt về ngoại quan lẫn chất lượng bên trong. Điều kiện học tập tốt hơn nhiều, nhất là về kinh tế gia đình hàng tháng chu cấp và tiếng Anh, tin học… nhưng kỹ năng truyền thông (communication) của các bạn lại kém hơn rất nhiều. Các kỹ năng mềm khác như tư duy giải quyết vấn đề, giao tiếp, tâm lý… phần lớn đều không bằng xưa. Từ năm 2004 đến giờ, Tony đã phỏng vấn mấy trăm bạn để cho doanh nghiệp mình và cho các doanh nghiệp bạn… và rút ra điều đó.

phong-van-xin-viec-lam Tiếp tục đọc

Chênh lệch Bắc – Nam: Hai bộ mặt của phát triển

Phát triển (hay kém phát triển) là một vấn đề toàn cầu, không chỉ liên quan đến quốc gia nghèo khó. Nhiều khu vực của các quốc gia công nghiệp phát triển vẫn còn kém phát triển. Bạn chỉ cần đi đến các vùng công nghiệp cũ và suy tàn của bất kì quốc gia công nghiệp hoá nào cũng nhận thấy những khu vực này có nhiều điểm chung với các nước đang phát triển hơn là với các quốc gia phát triển. Tuy nhiên, khi thế kỉ XX sắp kết thúc thì đại đa số dân số trên thế giới sinh sống ở những khu vực kém phát triển nơi mà tiêu chuẩn sống kém hơn nhiều so với các quốc gia công nghiệp hoá. Nền kinh tế chính trị quốc tế được đặc trưng bởi hai khoảng cách thu nhập đáng chú ý. Một là khoảng cách được thừa nhận một cách rộng rãi giữa các quốc gia nghèo và giàu; và khoảng cách còn lại là sự khác biệt ngày càng gia tăng trong nội bộ các quốc gia kém phát triển với nhau. Tải file đầy đủ: Hai-bo-mat-cua-su-phat-trien-P1Hai-bo-mat-cua-su-phat-trien-P2

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/

(cảm ơn Thầy Cô của Khoa QHQT và các dịch giả khác, vì đã dịch cho chúng tôi được tiếp cận những tài liệu hay)

Sự trở lại của các cuộc chiến tranh tiền tệ

(bài này rất có ích cho SV học môn Kinh tế quốc tế)

Nguồn: Nouriel Roubini, “The Return of Currency Wars”, Project Syndicate, Dec 1, 2014.

Biên dịch: Phạm Thị Thoa | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Quyết định gia tăng phạm vi nới lỏng định lượng của Ngân hàng Quốc gia Nhật Bản (Bank of  Japan- BOJ) gần đây là dấu hiệu cho thấy một vòng chiến tranh tiền tệ khác có lẽ đã sắp sửa bắt đầu. Nỗ lực làm yếu đồng yên của BOJ là một cách tiếp cận lợi mình hại người, gây ra nhiều phản ứng chính sách khắp châu Á và trên thế giới. Tiếp tục đọc

Tác động kinh tế chính trị của các công ty đa quốc gia

Tổng quan

Các công ty đa quốc gia là các nhân tố chính làm thay đổi khung cảnh kinh tế và chính trị quốc tế. Là những tổ chức hiện diện rộng khắp với quyền lực và tính di động cao, chúng gây ra cả sự nể phục lẫn sợ hãi. Mục đích của chương này là trình bày khái niệm các công ty đa quốc gia là gì, đến từ đâu, đầu tư vào đâu, và đánh giá tác động của chúng đối với các quốc gia và giới công nhân trên toàn cầu. 

download Tiếp tục đọc

Tại sao giá cả hàng hóa cơ bản đang giảm?

Nguồn: Jeffrey Frankel, “Why Are Commodity Prices Falling?Project Syndicate, Dec. 15, 2014.

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Giá dầu đã giảm mạnh 40% kể từ tháng 6 – tin tốt cho các nước nhập khẩu dầu mỏ, nhưng lại là tin xấu đối với Nga, Venezuela, Nigeria, và các nước xuất khẩu dầu khác. Một số người cho rằng dầu sụt giá là do sự bùng nổ năng lượng đá phiến của Mỹ. Những người khác lại cho là do OPEC thất bại trong việc đạt được thỏa thuận về hạn chế nguồn cung. Tiếp tục đọc

Kinh tế thiệt hại vì giá dầu giảm

Nhiều chuyên gia nhận định việc giá dầu thế giới giảm sâu và vẫn đang tiếp tục giảm sẽ tác động mạnh đến kinh tế trong nước theo hướng thiệt nhiều hơn lợi.


Khai thác dầu khí trên vùng biển Việt Nam – Ảnh: Thanh Hải

Giá dầu trên thế giới đã liên tiếp giảm trong những ngày qua. Cụ thể, ngày 2.10 giá dầu WTI (giao sau tại New York, Mỹ) là 89,67 USD/thùng; giá dầu brent (tại London, Anh) là 93,33 USD/thùng. Đến ngày 5.11, giá dầu WTI ở Mỹ 77,19 USD/thùng; dầu brent ở London 82,82 USD/thùng; ngày 27.11 dầu WTI ở Mỹ 68,9 USD/thùng, dầu brent ở London 72,58 USD/thùng và phiên giao dịch sáng 29.11 dầu WTI tại Mỹ còn 65,69 USD/thùng, dầu brent tại London còn 70 USD/thùng. Tiếp tục đọc

Những lỗi phổ biến trong trình bày bằng Powerpoint

Nguồn: Nguyễn Văn Tuấn

http://tuanvannguyen.blogspot.com/2014/11/nhung-loi-pho-bien-trong-trinh-bay-bang.html, November 9, 2014

Đã dự rất nhiều hội nghị khoa học lớn và nhỏ ở nhiều nơi, kể cả ở Việt Nam, tôi thấy một số sai lầm phổ biến trong cách trình bày bằng powerpoint (PPT). Những sai lầm này thường liên quan đến cách soạn slide, nội dung, và cách trình bày. Thật ra, ngày xưa, lúc mới bước vào học, tôi cũng từng phạm phải những sai lầm như thế, nhưng nhờ có thầy chỉnh sửa và hướng dẫn, nên đã tránh được những sai lầm đó và học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm. Nay đã đến lúc tôi có thể chia sẻ những kinh nghiệm cá nhân cùng các bạn.

Tiếp tục đọc

LÝ THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH VÀ GỢI Ý ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN HIỆN NAY

(Bài đọc bắt buộc đối với sinh viên lớp Địa lý KT&PTV K33)

nong san

(Ảnh minh hoạ từ internet)

Bài viết của PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên

Mở đầu
Lý thuyết thương mại quốc tế là một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, phát triển từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong các lý thuyết kinh tế thì lý thuyết thương mại được coi là phát triển nhất và có tính hệ thống lô gíc với nhau. Lý thuyết sau bao giờ cũng có sự kế thừa và phát triển của lý thuyết trước và mang tính khoa học ngày càng cao, ngày càng sát với thực tiễn. Trải qua nhiều thế kỷ, thực tiễn thường xuyên biến đổi, xã hội ngày càng hiện đại văn minh; nhưng các tư tưởng của Chủ nghĩa Trọng thương, lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, đặc biệt là lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo vẫn còn sống mãi, vẫn được những con người của xã hội hiện đại tiếp tục nghiên cứu và vận dụng vào đời sống thực tiễn
của mỗi quốc gia. Vậy lợi thế so sánh là gì? Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo đã được phát triển như thế nào? Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này không thể trình bày và phân tích hết sự phát triển của lý thuyết lợi thế so sánh. Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh như thế nào?
Bài viết này sẽ góp phần làm rõ những câu hỏi nêu ra ở trên và đưa ra một số gợi ý đối với Việt Nam nhằm vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh trong bối cảnh phát triển hiện nay.

Đọc chi tiết tại: 2 Goi y LTSS cho VN

Dầu thô và ngân sách

Hải Lý
Thứ Sáu,  14/11/2014, 09:12 (GMT+7)
Dầu thô là câu chuyện của ngân sách trước mắt và cả nền kinh tế lâu dài.

(TBKTSG) – Trong ngắn hạn, nguồn thu nào sẽ bù đắp cho số hụt thu từ dầu khí nếu giá dầu quốc tế còn rơi?

Số thu từ dầu thô mà ngân sách nhà nước có được năm ngoái lớn hơn gấp hai lần toàn bộ số chi cho ngành y tế. Đấy mới chỉ ở chiều xuất khẩu. Nếu tính cả số thu từ nhập khẩu xăng dầu thành phẩm, hẳn sự đóng góp của dầu khí vào ngân khố quốc gia không thấp hơn bao nhiêu so với mức chi cho đầu tư phát triển. Trong bối cảnh doanh nghiệp khó khăn, năng suất lao động thấp, liệu dầu thô có tiếp tục trở thành cứu tinh đối với ngân sách, phụ thuộc vào sự biến động giá của nó trên thị trường quốc tế, nơi tầm kiểm soát của Việt Nam không với tới được!

Dự toán 98 đô la Mỹ/thùng

Giá dầu thô mà ngân sách dự toán cho số thu năm nay là 98 đô la Mỹ/thùng, khá hợp lý vì từ giữa năm 2011 giá dầu thế giới luôn ở mức cao. Suốt tám tháng đầu năm 2014, giá dầu quốc tế dao động quanh mức 100 đô la Mỹ/thùng. Trên thực tế, trong ba quí đầu năm giá dầu thanh toán bình quân của Việt Nam cao hơn nhiều so với dự toán.

Từ đầu tháng 9-2014, giá dầu quốc tế liên tục lao dốc, có lúc chạm 76,3 đô la Mỹ/thùng, cách xa mức dự toán của ngân sách. Trong trường hợp giá dầu không tăng lại trên mức 80 đô la Mỹ/thùng, số thu ngân sách từ dầu thô trong quí cuối cùng của năm nay và năm sau sẽ bị ảnh hưởng nhiều.  

Một trong những doanh nghiệp lớn nhất ngành dầu khí Việt Nam là liên doanh Vietsovpetro. Hàng năm tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) được chia từ liên doanh này và từ các hợp đồng phân chia sản phẩm với các đối tác khác khoảng 10.000-20.000 tỉ đồng, tùy năm.

Trước đây, PVN được giữ lại một nửa con số được chia để tái đầu tư, nhưng gần đây mức phân chia giữa tập đoàn và ngân sách đã chuyển sang tỷ lệ 25/75. Nay khi giá dầu giảm, lợi nhuận được chia từ các đối tác sẽ giảm đi, và hiển nhiên là công cuộc đầu tư cả trong và ngoài nước của PVN sẽ chịu tác động trực tiếp.

Trong cuộc họp báo công bố kết quả kinh doanh nửa đầu năm 2014, tập đoàn cho biết ở nước ngoài PVN hiện đang hợp tác khoan với các nước 11 giếng dầu, trong đó 9 giếng đã kết thúc và 2 giếng đang thi công. Theo báo cáo tài chính năm 2012 được Deloitte kiểm toán, chi phí phát triển mỏ cho các hợp đồng dầu khí ở nước ngoài đến ngày 31-12-2012 của PVN lên tới 19.774 tỉ đồng. Những liên doanh tầm cỡ nhất trong mảng đầu tư ra nước ngoài của tập đoàn là Rusvietpetro và Gazpromviet tại Nga; Petrocamareo tại Venezuela, ba liên doanh tại Singapore.

Sẽ linh hoạt thuế suất?

Tổng cục Hải quan cho biết số thu thuế nhập khẩu xăng dầu trong 10 tháng đầu năm tăng 19,4% so với cùng kỳ. Rõ ràng nhu cầu tiêu thụ xăng và các sản phẩm dầu của Việt Nam ngày càng tăng. Quan trọng là giá xăng dầu nhập khẩu tăng đã trực tiếp làm tăng số thu thuế. Bây giờ giá xăng nhập giảm, giá bán lẻ cũng giảm, số thuế thu được trên mỗi lít xăng bán ra đương nhiên giảm theo.

Để đảm bảo nguồn thu, phương thức khả dĩ mà Bộ Tài chính không thể không tính tới là điều chỉnh nâng thuế nhập khẩu xăng dầu. Khung thuế suất nhập khẩu xăng dầu rất rộng, từ 0-40%. Hiện mức thuế áp dụng cho nhập khẩu xăng là 18%, dầu hỏa 16%, dầu mazut 15%, dầu diesel 14%. Khi thuế suất tăng, giá bán lẻ xăng và dầu các loại sẽ không thể giảm tương ứng với mức giảm quốc tế. Lúc đó người tiêu dùng sẽ thiệt.

Giá xăng dầu là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát. Trong rủi có may. Do sức mua yếu, từ đầu năm đến nay chỉ số giá tiêu dùng CPI chỉ tăng 2,36% so với cuối năm ngoái, thấp nhất trong 11 năm. CPI tháng 11 được dự báo sẽ không có nhiều biến động, thậm chí có thể chỉ tăng yếu ớt 0,1-0,2% so với tháng 10 do lần gần đây nhất giá xăng bán lẻ đã giảm tới 950 đồng/lít.

Ở phía doanh nghiệp, dù muốn hay không PVN sẽ phải lên kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với giá dầu thô quốc tế, trong đó có chỉ tiêu nộp ngân sách nhà nước. Báo cáo tài chính đã kiểm toán năm 2013 của tập đoàn chỉ ra chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2012 của PVN là 17.848 tỉ đồng; năm 2013 là 19.298 tỉ đồng. Với sức rơi khoảng 25% của giá dầu thô quốc tế từ tháng 9-2014 tới nay, PVN không thể nộp ngân sách nhiều như năm ngoái nếu không tăng sản lượng khai thác và kim ngạch xuất khẩu. Mức điều chỉnh, thí dụ, 10-15% số nộp ngân sách của tập đoàn đủ bằng số thu ngân sách một năm của một số địa phương.

Trong khi đó, những diễn biến trên thị trường dầu thô quốc tế cho thấy “cuộc chiến giá dầu” (xem TBKTSG số 43, ngày 23-10-2014) mới chỉ bắt đầu và nó sẽ làm thay đổi cục diện địa chính trị thế giới. Đồng rúp Nga đang mất giá từng ngày một phần cũng bởi giá dầu. Việt Nam đang khởi động một số dự án lọc dầu mới và mở rộng những dự án với số vốn đầu tư hàng chục tỉ đô la Mỹ. Các dự án này không thể nằm ngoài tầm ảnh hưởng của giá dầu.

Nhìn xa hơn, liệu có sự liên quan nào đó giữa biến động giá dầu thô và giá cả các mặt hàng năng lượng, nông sản, kim loại quý trên thị trường hàng hóa toàn cầu? Chưa biết mối quan hệ giữa chúng sẽ đi về đâu, nhưng Việt Nam không chỉ xuất dầu thô, Việt Nam còn xuất khẩu cao su, cà phê, tiêu, gạo…; xuất than đá và nhập than đá… Có lẽ đã đến lúc các nhà hoạch định chính sách nên quan tâm nhiều hơn đến giá dầu vì dầu thô là câu chuyện của ngân sách trước mắt và cả nền kinh tế lâu dài.

Tác động hai mặt của việc giá dầu giảm

Giá dầu trên thế giới giảm có tác động hai mặt đến Việt Nam.

Thứ nhất, Việt Nam là nước xuất khẩu dầu thô nên giá dầu giảm 25% thì thu nhập từ xuất khẩu dầu thô cũng giảm. Hàng năm PVN đóng góp đến gần 30% GDP nên nhìn từ góc độ vĩ mô thì giá dầu giảm là mặt tiêu cực.

• PVN chưa bao giờ công bố mức giá hòa vốn khai thác trên một thùng dầu thô. Do vậy cũng khó tính toán được mức lời của tập đoàn này, và do đó, rất khó dự đoán sự thâm hụt thực sự của nguồn thu chính phủ khi giá dầu giảm.

• PVN cũng đem tiền đi đầu tư vào các dự án khai thác dầu khí ở nước ngoài nên giá dầu giảm cũng phần nào làm giảm lợi nhuận của tập đoàn này. Nhưng PVN luôn báo lỗ khi đầu tư ra nước ngoài; cho nên nhân việc giá dầu giảm, cũng nên chấm dứt việc đầu tư tràn lan mà nên tập trung nguồn lực vào thăm dò và khai thác dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Thứ hai, Việt Nam là nước nhập khẩu xăng dầu thành phẩm (hơn 70% nhu cầu nội địa) và nhiều nguyên vật liệu có nguồn gốc từ dầu thô như phân bón, sợi tổng hợp… cho nên giá dầu giảm 25% cũng góp phần kích thích các ngành công nghiệp vận chuyển và kéo theo tăng trưởng của những ngành sản xuất khác. Nó cũng góp phần tăng sức mua, sức tiêu thụ của người dân. Do vậy, nhìn từ góc độ người tiêu dùng thì giá dầu giảm là mặt tích cực.

• Cũng như một vài quốc gia lân cận trong khu vực Đông Nam Á, Chính phủ Việt Nam vẫn phải trợ giá cho xăng dầu. Trong tương lai, với giá dầu giảm như hiện nay, có lẽ Chính phủ sẽ cân nhắc bỏ việc trợ giá và “thả” cho giá xăng dầu theo giá thị trường. Điều này sẽ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xăng dầu ở Việt Nam vì Chính phủ và các tổ chức này phải minh bạch giá xăng dầu nhập cảng cùng với chi phí đi kèm. Về dài hạn, đây là một điều có lợi đối với người tiêu dùng.

• Hiện tại, việc “bán đi mua lại” dầu thô và “mua đi bán lại” xăng dầu thành phẩm không minh bạch trong một thời gian dài đã làm giàu cho một số doanh nghiệp độc quyền trong lĩnh vực này và người dân thì phải trả phí xăng dầu cao ngất ngưởng.

Nếu Việt Nam sử dụng phần lớn nguồn dầu thô khai thác được để sản xuất xăng dầu và các phó sản đi kèm (phân bón, sợi tổng hợp…) thì đây có lẽ là một nguồn nội lực lớn của quốc gia – xem đây như là nguồn cung cấp năng lượng để phát triển các ngành công nghiệp khác và cung cấp cho thị trường tiêu thụ trong nước. Nếu như vậy thì có lẽ giá dầu giảm cũng sẽ không ảnh hưởng nhiều đến nguồn thu ngân sách như hiện nay.

Nhóm nghiên cứu dầu khí Houston

http://www.thesaigontimes.vn/122578/Dau-tho-va-ngan-sach.html

Chính trị dầu lửa

Tác giả: Hoàng Anh Tuấn

Về các diễn biến an ninh, chính trị hiện nay, những điều được bàn và trao đổi thường xuyên là cuộc chiến chống Nhà nước Hồi giáo (IS) ở Trung Đông, khủng hoảng ở miền Đông Ucraina, Mỹ xoay trục sang châu Á-Thái Bình Dương, Trung Quốc trỗi dậy… Điều đó đúng, không sai. Tuy nhiên, vấn đề kinh tế cũng như các các tác động của kinh tế đối với an ninh, chính trị lại ít được bàn đến. Thực ra, trên bình diện quốc gia và quốc tế, kinh tế chính là chính trị và làm chính trị cũng vì mục tiêu kinh tế là chính.

Đáng chú ý là một diễn biến kinh tế quan trọng, bắt đầu từ vài tháng vừa qua nhưng lại ít được xem xét đúng mực cả về khía cạnh kinh tế, lẫn chính trị và an ninh, đó là:  giá dầu giảm từ mức 114 USD/thùng trong tháng 6/2014 xuống còn 83 USD/thùng vào ngày 17/10/2014 và vẫn đang tiếp tục giảm. Tiếp tục đọc

Hiện đại hóa, toàn cầu hóa và vấn đề chảy máu chất xám

Tác giả: Trần Hữu Dũng

Ở hầu hết mọi nơi trên thế giới, hiện tượng “chảy máu chất xám” (từ nước này sang nước khác) là một hiện tượng được nhiều người, trong chính quyền cũng như ngoài xã hội, đặc biệt quan tâm.  Ngay các quốc gia tiền tiến Tây Âu và Canada thỉnh thoảng cũng bộc lộ nhiều lo lắng về chất xám của họ di cư sang Mỹ.  Và chính ở Mỹ, trong vài năm gần đây, do hậu quả những luật lệ cấm đoán một số đề tài nghiên cứu sinh y học tại nước này, cũng bị thất thoát nhiều khoa học gia sang Anh.  Tuy nhiên, cho đến nay, sự chảy máu chất xám trầm trọng nhất vẫn là từ các quốc gia nghèo, kém phát triển Á, Phi, Mỹ La Tinh (và mới đây là Đông Âu) sang các quốc gia giàu, đã phát triển, ở Tây Âu và Bắc Mỹ.

Để có một chính sách đúng đắn đối với hiện tượng này, và cụ thể hơn là để cá nhân chất xám có những quyết định sáng suốt cho tương lai bản thân và gia đình, những lý do thường viện dẫn để giải thích cái “không tốt”, hoặc “tốt”, của sự chảy máu chất xám, cũng như những phản luận, cần được khám định cặn kẽ và khách quan. Tiếp tục đọc

Thành công của “Abenomics” xoay quanh chính sách nhập cư

[–> Có một vấn đề tuy diễn ra chậm rãi, âm thầm nhưng tính khắt nghiệt lại hơn hẳn các chỉ số về kinh tế, bởi vì khi nó trở thành hiện thực thì rất khó để đối phó, đảo chiều. Đó là vấn đề già hoá dân số. Đa số các quốc gia khi trải qua thời kỳ dân số vàng, nền kinh tế của họ đạt được những thành tựu đáng kể vì có chính sách phát triển tốt để tận dụng nguồn LĐ trẻ dồi dào. Và ngược lại, nếu các quốc gia thiếu vắng/không có chính sách đúng đắn thì dễ dàng rơi vào tình trạng “chưa giàu đã già”. Đọc lại: https://thidlkt.wordpress.com/2014/07/29/thach-thuc-chua-giau-da-gia/

Thực tế khác lại cho thấy rằng, các quốc gia đã rơi vào tình trạng già hoá dân số đang phải “đau đầu” tìm các chính sách thích hợp để tăng tỷ lệ sinh và tỷ lệ nhập cư (ở mức hợp lý). Có thể nói Mối quan hệ giữa Phát triển kinh tế và Địa lý dân cư chưa bao giờ là cũ]

 

Thành công của “Abenomics” xoay quanh chính sách nhập cư

Đăng ngày: 22-05-2014, 17:59

Trong tháng ba, Hidenori Sakanaka, một cựu giám đốc của văn phòng khu vực xuất nhập cảnh Tokyo, đã liên lạc  và gặp gỡ  với một nhóm người mà ông chưa bao giờ mơ ước được gặp : những nhà quản lý tài sản của các công ty đầu tư toàn cầu.

 

Sakanaka, hiện đang đứng đầu Viện Chính sách Nhập cư Nhật Bản tại Tokyo, đã được yêu cầu giải thích chính sách nhập cư nổi tiếng chặt chẽ của Nhật Bản và đề xuất của ông để giảm bớt đáng kể những chính sách này, nhằm cứu Nhật Bản khỏi những hậu quả nghiêm trọng của tình trạng dân số già đi nhanh chóng và suy giảm nhanh chóng. Tiếp tục đọc

Nợ công: Không còn là vấn đề của tương lai

 

Tư Hoàng

Thứ Ba,  14/10/2014, 20:25 (GMT+7)

(TBKTSG Online) – Ngưỡng an toàn nợ công của Việt Nam đang có nguy cơ bị xô đổ trong thời gian ngắn tới đây nếu căn cứ vào những số liệu chính thức của Chính phủ. Như vậy, nợ công không còn là vấn đề đáng lo ngại của tương lai, mà hiện hữu trước mắt.

Tuy nhiên, ngưỡng an toàn đó thực tế đã bị bỏ lại phía sau từ lâu, nếu nợ công được tính đúng và tính đủ, theo các tài liệu của Quốc hội.

Theo báo cáo của Chính phủ gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nợ công của Việt Nam đến năm 2015 sẽ tiệm cận mức 64% GDP, gần sát ngưỡng an toàn là 65% GDP – được coi là chỉ tiêu mang tính pháp lệnh của Quốc hội trong kế hoạch 2011-2015. Mức nợ công sẽ vào khoảng 63% GDP vào cuối năm nay.

Tiếp tục đọc

Định luật thứ Nhất của Chính trị dầu mỏ

Nguồn: Thomas L. Friedman (2006). “The First Law of Petropolitics”, Foreign Policy, No.154 (May/June), pp 28-36

Biên dịch: Trần Nguyễn Hồng Ngọc | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp  

Tổng thống Iran phủ nhận việc Đức Quốc Xã diệt chủng người Do Thái, Hugo Chávez cho rằng các nhà lãnh đạo phương Tây nên xuống địa ngục, còn Vladimir Putin thì đang chủ động lấn lướt. Nguyên nhân từ đâu? Họ hiểu rằng giá dầu và tiến trình tự do luôn chuyển động ngược chiều nhau. Đó là định luật đầu tiên của chính trị dầu mỏ, và nó có thể là tiền đề cho những lý giải về một số đặc điểm trong thời đại của chúng ta.

strategic-oil-reserves-world

Khi nghe tin Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad tuyên bố cuộc diệt chủng người Do Thái thời Đức Quốc Xã chỉ là một “câu chuyện tưởng tượng”, tôi không thể không nghĩ rằng “Liệu Tổng thống Iran có phát biểu như thế không nếu giá dầu chỉ ở mức 20 đô la thay vì 60 đô la một thùng như hiện nay.” Khi nghe tin Tổng thống Venezuela Hugo Chávez cho rằng cựu Thủ tướng Anh Tony Blair nên “xuống thẳng địa ngục” và phát biểu với những người ủng hộ mình rằng Khu vực Mậu dịch Tự do Châu Mỹ do Mỹ bảo trợ “là đồ bỏ đi”, tôi cũng tự hỏi “Liệu Tổng thống Venezuela có tuyên bố những điều này không nếu giá dầu hiện nay chỉ vào khoảng 20 đô la thay vì 60 đô la một thùng, và đất nước của ông ta phải tự lực phát triển nhờ những doanh nghiệp của riêng mình, chứ không chỉ nhờ mỗi việc khai thác những giếng dầu.”

Tiếp tục đọc

Trung Quốc vượt Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới

Theo số liệu mới nhất của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), GDP Trung Quốc tính theo phương pháp ngang giá sức mua (PPP) sẽ đạt 17.600 tỷ USD năm nay, vượt Mỹ với 17.400 tỷ USD.

Phương pháp này sử dụng tỷ giá để điều chỉnh giá hàng hóa các nước. Do mức sống tại Trung Quốc thấp hơn Mỹ, đổi GDP Trung Quốc sang USD sẽ làm giảm sức mua của người dân nước này.

Khoảng cách giữa 2 nước sẽ càng được nới rộng trong năm tới. Khi đó, GDP (PPP) của Mỹ là 18.200 tỷ USD, còn Trung Quốc là 19.200 tỷ USD. Tiếp tục đọc

Sách: Tái định dạng Địa kinh tế – Báo cáo Phát triển thế giới 2009.

Cuốn  “Tái địa dạng địa kinh tế” là Báo cáo Phát triển thế giới 2009 của Ngân hàng thế giới. Báo cáo này gồm 3 phần tập trung chủ yếu vào các sự kiện thực tế, phân tích các chính sách liên quan đến chuyển đổi theo phạm vi địa lý.

  • Phần 1: “Nhìn nhận vấn đề phát triển theo ba chiều”. Phần này gồm 3 chương, trình bày các sự kiện thực tế về sự chuyển đổi theo phạm vi địa lý- những thay đổi về mật độ, khoảng cách và sự chia cắt kinh tế. Chương 1 chỉ ra rằng sự phát triển luôn đi đôi với sự gia tăng mật độ dân cư. Chương 2 cho thấy sự phát triển đi cùng với sự tập trung của hoạt động kinh tế. Với sự tập trung này, thị trường ở những vùng đó càng giàu tiềm năng. Tuy nhiên, điều này lại làm đậm thêm sự bất bình đẳng theo không gian giữa “vùng dẫn đầu” với “vùng tụt hậu” (vùng ít có sự tập trung của hoạt động kinh tế). Chương 3 nhấn mạnh sự chia cắt quốc tế làm giảm nhưng không ngăn chặn sự tập trung hoạt động kinh tế ở một số quốc gia.

Gill1Figure 1. Economic activity in central Europe – An uneven topography Tiếp tục đọc

Kỷ yếu Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2014

(TBKTSG Online) – Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2014 vừa diễn ra tại Ninh Bình cuối tuần qua. Diễn đàn quy tụ nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, quan chức chính phủ, lãnh đạo doanh nghiệp và giảng viên các trường đại học kinh tế tài chính, cùng thảo luận sâu những vấn đề về hiện trạng nền kinh tế Việt Nam, đề xuất những phương hướng chính sách để vượt qua khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng.

Phần lớn các bài tham luận, phát biểu tại Diễn đàn đã được Ban Tổ chức tập hợp thành Kỷ yếu Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2014 – Ninh Bình.

Để tiện tham khảo cho những ai quan tâm tới kinh tế mà không trực tiếp tham dự Diễn đàn, TBKTSG Online đã đăng lại Kỷ yếu này dưới đây.

KY YEU DIEN DAN KT MUA THU 2014

Tiếng Anh chuyên ngành – 02: Sự phân biệt giá quốc tế và bán phá giá

Phân biệt giá quốc tế là việc bán một sản phẩm ở thị trường trong nước và thị trường nước ngoài với giá khác nhau. Theo quy chế ở nhiều nước như Mỹ và Canada, hành động này có thể bị điều tra như thể bán phá giá. Nhưng đây có thực sự là bán phá giá không?

Để phân biệt giá, một công ty phải có phần nào khả năng kiểm soát giá ở thị trường trong nước. Nói cách khác, công ty đó phải độc quyền ở nước nhà, để có thể giảm sản lượng ở thị trường nước nhà nhằm nâng giá; việc giảm sản lượng sẽ gây tổn thất phúc lợi xã hội. Tiếp tục đọc

Tư duy địa kinh tế – địa chính trị

Nguyễn Trần Bạt

Chủ tịch/ Tổng giám đốc InvestConsult Group – Suy Tưởng

08:34′ AM – Thứ hai, 31/03/2014

600px-VietnamInTheWorld.svgGần ba mươi năm trôi qua kể từ khi chiến tranh kết thúc, khoảng thời gian đủ dài để một đất nước phát triển tới tầm cao mới về chất, nhưng Việt Nam vẫn không thể phát triển, trái lại vẫn mắc kẹt trong những tình thế kinh tế – chính trị bất lợi. Nguyên nhân của tình trạng này có phần rất lớn thuộc về trách nhiệm của công tác hoạch định chiến lược phát triển kinh tế.

Thế giới có nhiều kinh nghiệm tốt, nhiều tấm gương thần kỳ trong phát triển kinh tế, nhưng Việt Nam không thể máy móc làm theo, lý do đơn giản là thời thế đã thay đổi và Việt Nam không giống họ. Chiến lược phát triển kinh tế cũng không thể chạy theo những ảo vọng chính trị, bất chấp thực tế cuộc sống. Một chiến lược phát triển kinh tế hợp lý phải căn cứ vào điều kiện và thực lực của đất nước, đồng thời phải phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại. Với tư tưởng chủ đạo trên, khoa học về địa chính trị và địa kinh tế sẽ là những công cụ quan trọng giúp chúng ta hoạch định được một chiến lược phát triển kinh tế hợp lý và khả thi nhất. Tiếp tục đọc

Tiếng Anh chuyên ngành – 01: COMPETITIVENESS (Tính cạnh tranh)

COMPETITIVENESS

A debate has arisen around the question of whether and how the competitiveness of a nation is different from that of a firm. According to the conventional concept of competitiveness, a firm is considered competitive when it can produce products similar to those produces by other firms but at lower prices or with higher quality and superior services associated with them, thus keeps its foothold in the market.

Firms that cannot compete will be driven out of the market. Competition among firms within an industry is intense because competition will inevitably result in the demise of those firms which are unable to compete successfully; this kind of competition can be described as a zero-sum game. Tiếp tục đọc

 Vấn đề GDP có phải chỉ lỗi ở các tỉnh?

Tác giả Vô Thường

Thứ Bảy,  16/8/2014, 14:04 (GMT+7)

(TBKTSG) – Vấn đề tính toán chỉ số GDP sao cho chính xác được nêu lên khá nhiều trên các phương tiện truyền thông nhân hội nghị do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức ở Đà Nẵng. Mọi tội lỗi dường như được quy cho địa phương và dường như Tổng cục Thống kê (TCTK) vô can trong chuyện đưa ra các con số tăng trưởng ảo?

Được biết TCTK được tổ chức theo ngành dọc, tức là trong TCTK bao gồm các vụ, viện, trung tâm ở trung ương và các cục thống kê tỉnh (63 cục thống kê tương ứng với 63 tỉnh), bao trùm lên tất cả là TCTK.

(Ảnh biếm họa)

Tiếp tục đọc

Tại sao đối thủ cạnh tranh đặt cửa hàng sát cạnh nhau

Lý thuyết trò chơi là một kiến thức khoa học mà ít người Việt Nam biết đến. Tuy nhiên, đây lại là một lĩnh vực nghiên cứu hết sức có ích và vô cùng thực tế. Trong ngành Địa lý nhân văn, lý thuyết này được giới thiệu trong chương Địa lý kinh tế khu vực 2 (tức Địa lý về Công nghiệp) để giải thích lí do vì sao các đối thủ cạnh tranh thường đặt cạnh nhau: như nhà hàng thức ăn nhanh, cây xăng, shop quần áo… 

Harold Hotelling (1895-1973), là nhà kinh tế học người Mỹ, đã đưa ra lý thuyết này và nó vẫn còn giá trị cho đến tận ngày nay. 

Xem video tại đây: https://www.youtube.com/watch?v=CISlwDi87Dg

Nguồn: TEDvn

Trích từ 1 bài viết trên báo Dân Trí:

Những người mua xăng lười nhác và mô hình Hotelling

 Có một ví dụ về mô hình hoạt động của thị trường đơn giản mà rất thú vị do nhà kinh tế học Hotelling đề xuất. Tiếp tục đọc

Phim Inside Job

Được đánh giá rất cao về mặt nội dung thông tin cũng như khả năng truyền cảm, Inside Job có thể khiến người xem vừa tức giận vừa bất lực với những gì đã và đang diễn ra xung quanh cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2010. Một số ý kiến cho rằng bộ phim xứng đáng là kiệt tác tài liệu của năm. Phim dài 1h48ph về nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2010, Inside Job được dàn dựng dưới sự chỉ đạo của đạo diễn nổi tiếng Charles Ferguson, người đã từng nổi danh với bộ phim No End Inside sản xuất vào năm 2007. Ferguson cho biết sự ra đi liên tiếp của hàng loạt ngân hàng đầu tư lớn như Lehman Brothers, Merrill Lynch, và AIG chỉ trong vòng 48 giờ và chính nỗi lo của nhà đầu tư về số phận của những khoản tiền gửi của họ trong ngân hàng của họ đã khiến ông nảy ra ý tưởng sản xuất bộ phim.

Trong số nhiều nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng, Inside Job phân tích hai nguyên nhân chính, đó là sự bãi bỏ hoặc giảm bớt các quy định trên thị trường và lợi ích cá nhân đã làm mờ mắt những phần tử có vai trò quan trọng đối với vận động của thị trường. Giảm bớt các quy định trên thị trường được gọi là “deregulation.” Deregulation bắt đầu được áp dụng từ thời của tổng thống Donald Reagan những năm 1980 và vẫn tiếp tục cho đến tận ngày ngay, dưới thời tổng thống Bush và Obama. Deregulation mở đường cho sự hình thành những ngân hàng đầu tư và công ty tài chính khổng lồ cùng với sự ra đời của những sản phẩm tài chính phức tạp gọi là phái sinh. Thông qua phái sinh, tất cả các phần tử tham gia thị trường tài chính liên kết lẫn nhau, hình thành nên chuỗi vận động của chứng khoán rất phức tạp. Chính deregulation và phái sinh đã khiến các ngân hàng và công ty đầu tư cho vay bừa bãi đã dẫn đến bong bong khổng lồ trên thị trường bất động sản, châm ngòi cho cuộc khủng hoảng.

Xem phim tại Zing: http://tv.zing.vn/video/Inside-Job-Cuoc-Khung-Hoang-Kinh-Te-Cuoc-Khung-Hoang-Kinh-Te/IWZ98COZ.html

Xem thêm phim cùng chủ đề:  Capitalism: A Love story http://tv.zing.vn/video/Capitalism-A-Love-Story-Chuyen-Tinh-Chu-Nghia-Tu-Ban-Capitalism-A-Love-Story/IWZ97AU0.html

 

Thách thức chưa giàu đã già

Cho đến nay vấn đề rút ngắn khoảng cách phát triển, tránh nguy cơ tụt hậu với các nước xung quanh đã được bàn đến nhiều. Nhưng một vấn đề khác ít được nhận diện, vì tiến hành âm thầm, chậm rãi, là sự thay đổi của cơ cấu dân số theo hướng lão hóa.

Vấn đề này diễn ra chậm chạp nhưng khắc nghiệt hơn vì khi đã thành hiện thực thì khó có thể đối phó được nữa. Trước giai đoạn lão hóa là thời đại dân số vàng. Giai đoạn này nếu không có chiến lược, chính sách phát triển nhanh để đất nước giàu lên trước khi cơ cấu dân số thay đổi thì chắc chắn sẽ trực diện với bi kịch chưa giàu đã già. Việt Nam đang đứng trước thách thức này.

Dân số vàng đến và đi như thế nào?  Tiếp tục đọc

Bất bình đẳng gia tăng: người dân nghĩ gì?

_1377874500_9679Việt Nam đã đạt được những thành tựu giảm nghèo ấn tượng cùng với sự phát triển kinh tế trong thời gian qua. Đời sống của người dân được cải thiện về nhiều mặt. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế lại đi liền với sự gia tăng các dạng bất bình đẳng.

Quốc hội và Chính phủ Việt Nam đã nhận thấy sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các nhóm dân cư là một thách thức lớn đối với sự ổn định xã hội và phát triển hài hòa của đất nước. Bất bình đẳng ngày càng tăng, cùng với những thách thức khác trong quá trình phát triển, đòi hỏi cấp bách phải có những thay đổi trong chương trình chính sách trong thời gian tới.

Đọc toàn văn báo cáo Gợi ý chính sách của tổ chức Oxfam Việt Nam: Perception-of-Inequality-brief-VN-LR

Lý Quang Diệu viết về dân số Singapore

Nguồn: Lee Kuan Yew (2013). “Singapore: Population”, in L.K. Yew, One Man’s View of the World (Singapore: Straits Times Press), pp. 217-227.

Biên dịch: Ngô Trần Thanh Hiền | Hiệu đính: Nguyễn Ngọc Tường Ngân

Nếu tôi phụ trách Singapore ngày nay, tôi sẽ áp dụng chương trình thưởng sinh nở tương đương với 2 năm lương trung bình của một người Singapore. Tổng số tiền sẽ đủ để nuôi đứa bé tới khi nó bắt đầu vào tiểu học là ít. Tôi có kỳ vọng số lượng trẻ em sẽ tăng lên đáng kể không? Không. Tôi tin rằng thậm chí cả những khoản khuyến khích bằng tiền hậu hĩnh cũng sẽ chỉ có tác động nhỏ lên tỉ lệ sinh nở. Nhưng tôi vẫn sẽ hành động và đưa ra chương trình thưởng, ít nhất 1 năm, chỉ để chứng minh rằng tỉ lệ sinh nở thấp của chúng ta chẳng liên quan gì tới những nhân tố kinh tế hay tài chính, như chi phí sống đắt đỏ hay thiếu hụt trợ giúp của chính phủ cho các bậc cha mẹ. Thực ra đây là kết quả của phong cách sống và nếp nghĩ thay đổi.

Và nếu chúng ta chẳng làm được bao nhiêu bằng các biện pháp khuyến khích để thuyết phục người dân Singapore có nhiều con hơn, thì chúng ta phải thực tế và hỏi bản thân rằng có những lựa chọn nào khác tránh cho xã hội này biến mất trong vòng vài thế hệ kế tiếp hay không.

singapore Tiếp tục đọc